Đăng ký khóa học

Giảm 25% khi đăng ký tại Quận 3, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình. Giảm 20% cho Thủ Đức, Biên Hòa.

 

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VN

Mô hình kế toán quản trịCÁC ĐIỀU KIỆN, CƠ SỞ CẦN THIẾT ĐỂ TRIỂN KHAI, ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM.

TS. Bùi Công khánh

1. Thực trạng vận dụng kế toán Quản trị ở các doanh nghiệp

Lược sử về kế toán doanh nghiệp chứng minh là kế toán quản trị tồn tại rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ mới được hệ thống hoá và phát triển một cách có hệ thống về lý luận và thực tiễn ở những thập kỹ gần đây trong các doanh nghiệp. Đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô, sự tiến bộ nhất định về khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, điều kiện xử lý thông tin.

Ơ Việt Nam, kế toán quản trị cũng đã xuất hiện và phát triển gắn liền với các chính sách, chế độ kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp. Tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ mới được đề cập một cách có hệ thống vào đầu những năm 1990 trở về đây và trở thành cấp bách trong việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000, khi các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Về mặt pháp lý, thuật ngữ “Kế toán quản trị” cũng chỉ vừa được công nhận chính thức trong luật kế toán Việt Nam ban hành ngày 17-6-2003.Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa chú trọng đến kế toán quản trị mặc dù trong quá trình điều hành doanh nghiệp họ điều phải đưa ra quyết định trên những thông tin của kế toán quản trị. Thông tin có được là do xử lý một cách cảm quan và kinh nghiệm của nhà quản lý nên nó mang tính khoa học không cao.

Qua khảo sát việc vận dụng kế toán quản trị ở các doanh nghiệp sản xuất, kế toán quản trị tồn tại dưới hai mô hình:

-          Mô hình thứ nhất: Với các doanh nghiệp có hệ thống quản lý chủ yếu dựa tên nền tảng chuyên môn hoá sâu theo từng bộ phận hoạt động sản xuất kinh doanh, từng hoạt động quản lý thì nội dung kế toán quản trị được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế – tài chính theo từng bộ phận chuyên môn hoá để phục vụ hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định của từng nhà quản lý ở từng cấp quản trị. Nội dung của mô hình kế toán quản trị này thường bao gồm những lý luận và nghiệp vụ kỹ thuật cơ bản về [1]:

  • Phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng phạm vi chuyên môn hoá, cấp bậc quản trị.
  • Xác định, kiểm soát, đánh giá giá thành sản phẩm (chủ yếu là giá thành sản phẩm của từng quá trình/ công đoạn sản xuất).
  • Dự toán ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm theo từng bộ phận và đánh giá trách nhiệm quản lý ở từng cấp bậc quản trị.
  • Thu thập, phân tích thông tin để thiết lập các thông tin thích hợp làm cơ sở xây dựng giá bán, lập phương án kinh doanh ngắn hạn, dài hạn theo từng bộ phận, từng cấp bậc quản lý.
  • Phân tích, dự báo một số chỉ tiêu tài chính ở từng bộ phận trong doanh nghiệp.

-          Mô hình thứ hai: Với các doanh nghiệp có hệ thống quản lý chủ yếu dựa trên nền tảng từng “quá trình hoạt động” [2]. Nội dung kế toán quản trị của mô hình này được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế – tài chính từng “quá trình hoạt động” để phục vụ hoạch định. Tổ chức phối hợp – thực hiện, đánh giá hiệu quả của từng “đội công tác quá trình”. Đội công tác quá trình bao gồm nhiều người có chuyên môn khác nhau cùng thực hiện một quá trình sản xuất kinh doanh. Nội dung của mô hình kế toán quản trị này thường bao gồm những lý luận và nghiệp vụ kỹ thuật cơ bản về [3]:

  • Phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng “quá trình hoạt động”.
  • Dự toán ngân sách hoạt động của từng “quá trình hoạt động” và đánh giá hiệu quả của từng “đội công tác quá trình”.
  • Thu thập, phân tích thông tin để thiết lập thông tin thích hợp phục vụ lựa chọn từng “quá trình hoạt động” và phối hợp thực hiện quá trình hoạt động của “đội công tác quá trình”.
  • Phân tích, dự báo các chỉ số tài chính theo từng “quá trình hoạt động” của doanh nghiệp.

Mô hình kế toán quản trị với hệ thống quản lý theo “quá trình họat động” là một sự đổi mới, tái lập lại cơ bản mô hình kế tóan quản trị với hệ thống quản lý theo chuyên môn hóa. Mô hình kế toán quản trị này được hình thành gắn liền với “cuộc cách mạng mới trong quản lý kinh doanh” đang diễn ra trong một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Úc,… (cụ thể như công ty xe hơi Ford, hãng Kodak, Wall-Mart…) trong những năm gần đây nhằm khắc phục những nhược điểm của mô hình quản lý theo hướng chuyên môn hóa trong môi trường sản xuất kinh doanh và cạnh tranh hiện nay.

 

2. Xây dựng mô hình kế toán quản trị cho các doanh nghiệp ở Việt Nam

Dựa trên mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính cũng như các mô hình kế toán quản trị đã ứng dụng ở các doanh nghiệp trên thế giới, Chúng ta xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp ở Việt Nam như sau:

Bộ phận kế toán 

 

Điều này cho thấy việc tổ chức hệ thống kế toán quản trị như là một một phân hệ trong cùng hệ thống kế toán doanh nghiệp, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chức năng thông tin và kiểm tra của kế toán được toàn diện và hiệu quả hơn. Bộ máy kế toán của doanh nghiệp sẽ bao gồm hai bộ phận là: Kế toán quản trị và kế toán tài chính. Khi đó, thông tin kế toán sẽ được xử lý như sau:

Hệ thống kế toán

 

- Đối với các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến vốn bằng tiền: kế toán tài chính sẽ căn cứ vào các chứng từ thu, chi để ghi nhận vào tài khoản vốn bằng tiền và các tài khoản có liên quan. Cuối kỳ, kết sổ các tài khoản và lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Song song với quá trình này, thì bộ phận kế toán quản trị ghi nhận nghiệp vụ thu, chi tiền vào các tài khoản tương xứng của hệ thống tài khoản kế toán quản trị theo từng bộ phận, từng trung tâm trách nhiệm, để đối chiếu, kiểm soát tình hình thực hiện dự toán tiền của từng trung tâm trách nhiệm và làm cơ sở cho dự toán kỳ sau.

- Đối với các nghiệp vụ xác định kết quả kinh doanh: kế toán tài chính sẽ căn cứ vào các chứng từ gốc của doanh thu và phân bổ chi phí để ghi nhận vào các tài khoản tương ứng. Cuối kỳ, kết chuyển các tài khoản chi phí và doanh thu sang tài khoản xác định kết quả kinh doanh để lập báo cáo kết quản hoạt động kinh doanh. Song song với quá trình này, kế toán quản trị sẽ khai thác số liệu này sâu hơn bằng cách ghi chép chi tiết theo từng yếu tố chi phí ứng với trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận để phân tích tình hình thực hiện dự toán của từng trung tâm trách nhiệm, đồng thời lập các báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đãm phí cho từng bộ phận, từng trung tâm lợi nhuận để đánh giá mức độ đóng góp của từng trung tâm trong việc tạo ra lợi nhuận cho toàn doanh nghiệp, cũng như làm cơ sở cho việc ra quyết định kinh doanh trong ngắn hạn trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C-V-P).

 

3. Các điều kiện, cơ sở cần thiết để triển khai, ứng dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp ở Việt Nam.

v  Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:

-          Nhà nước cần ban hành một chính sách kế toán phân định riêng phạm vi phản ánh của kế toán quản trị cùng với các văn bản hướng dẫn thực hiện kế toán quản trị tại doanh nghiệp. Nhằm định hướng cho các doanh nghiệp thấy được tầm quan trọng trong việc thực hiện kế toán quản trị cho doanh nghiệp mình. Nhà nước chỉ cần phát hoạ ra bức tranh tổng thể để từng doanh doanh nghiệp nhìn nhận và ứng dụng cụ thể vào tình hình thực tế ở doanh nghiệp mình, chứ Nhà nước cũng không nên ràng buộc và can thiệp quá sâu vào nghiệp vụ kỹ thuật kế toán quản trị của doanh nghiệp. Vì như thế, sẽ làm cản trở các công việc kế toán khác.

-          Hội kế toán Việt Nam nên tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tổ chức thực hiện kế toán quản trị bằng việc đưa ra một số mô hình tổ chức kế toán mẩu phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, từng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, từng quy mô của doanh nghiệp thông qua các buổi hội thảo. Trên cơ sở đó, giúp doanh nghiệp nhận thức được vai trò và tác dụng của kế toán quản trị cũng như những định hướng cho việc tổ chức công tác kế toán quản trị phù hợp với doanh nghiệp mình. Tuỳ theo yêu cầu quản lý cụ thể mà doanh nghiệp có thể mở rộng, thu hẹp hay thiết kế lại mô hình cho thích hợp nhất.

v  Đối với nơi đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành kế toán quản trị

-          Cần có sự cải tiến chương trình và phương pháp đào tạo chuyên ngành kế tóan quản trị theo hướng thực hành và ứng dụng thực tế.

-          Cần nghiên cứu tìm ra giải pháp để xây dựng mô hình đào tạo kết hợp gữa lý thuyết và thực hành giữa các Trường, Viện và doanh nghiệp. Đồng thời, cần lập ra một phòng kế toán “ảo” tại trường để sinh viên thường xuyên được thực hành với các tình huống thực tế, nhằm phát huy vai trò chủ động, kỹ năng tư duy khoa học và nghệ thuật quản lý vào thực tiễn.

v  Đối với doanh nghiệp thực hiện kế toán quản trị

-          Tổ chức hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh, xác lập hệ thống quản lý sản xuất kinh doanh, định hướng phát triển hệ thống quản lý để làm cơ sở xác lập, định hướng thiết kế, xây dựng mô hình kế toán quản trị cho doanh nghiệp.

-          Cần nâng cao nhận thức và trình độ quản lý cho các nhà quản trị doanh nghiệp. Các nhà quản trị doanh nghiệp phải biết đưa ra những yêu cầu về thông tin cần được bộ phận kế toán quản trị cung cấp, và quan trọng hơn là phải có kiến thức phân tích và sử dụng thông tin của kế toán quản trị.

-          Cần phải tổ chức, sắp xếp lại bộ máy kế toán doanh nghiệp theo hướng kết hợp bộ phận kế toán quản trị và kế toán tài chính trong cùng bộ máy kế toán. Vì đa số các doanh nghiệp hiện nay chỉ tập trung vào công tác kế toán tài chính. Cải tiến mối quan hệ giữa bộ phận kế toán với các bộ phận khác trong doanh nghiệp để tạo thuận lợi cho việc thu thập thông tin cho kế toán quản trị.  Tuy nhiên, để thông tin kế toán quản trị được bảo mật, doanh nghiệp cần bố trí phòng làm việc riêng cho bộ phận này.

-          Xây dựng hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản, hệ thống sổ sách kế toán và hệ thống báo cáo kế toán quản trị cho phù hợp với công tác quản lý và đặc điểm sản xuất kinh doanh riêng của doanh nghiệp, dựa trên các mô hình kế toán quản trị đã được áp dụng của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

-          Cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu thông tin trong nội bộ doanh nghiệp, vì kế toán quản trị chỉ có thể vận hành hiệu quả khi Ban quản trị trong doanh nghiệp biết đặt ra những nhu cầu về thông tin nội bộ. Các chỉ tiêu thông tin này phải có quan hệ qua lại với hệ thống thông tin kế toán. Do đó, hệ thống thông tin nội bộ doanh nghiệp cần phải được thiết lập đồng bộ và thống nhất, tránh sự trùng lắp nhằm đảm bảo cho việc truyền tải thông tin được nhanh chóng và thuận lợi, không xuất hiện mâu thuẫn giữa các thông tin được cung cấp. Vì vậy, Ban quản trị cấp cao của doanh nghiệp cần thiết kế một cấu trúc tổ chức khoa học, hợp lý, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận trong việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin. Có như vậy, mới tạo nên một hệ thống thông tin nội bộ hoàn chỉnh phục vụ công việc quản lý của doanh nghiệp.

-          Cần xây dựng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến và hiện thực để vận dụng trong doanh nghiệp, nhằm cung cấp một nguồn dữ liệu đáng tin cậy cho kế toán quản trị trong việc dự báo, kiểm soát chi phí. Các doanh nghiệp nên thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuấn ISO để qua đó xây dựng hệ thống định mức chi phí sẽ mang tính khoa học hơn.

-          Có chính sách đào tạo lại, cũng như bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn về kế toán quản trị cho đội ngũ nhân viên kế toán của doanh nghiệp thích ứng với yêu cầu của hệ thống bộ máy kế toán mới.

v  Đối với người thực hiện công tác kế toán quản trị tại doanh nghiệp

-          Nhân viên kế toán quản trị phải có trình độ nhất định về kế toán và phải có kiến thức chuyên sâu về kế toán quản trị để thực nhiện công việc cung cấp các thông thin thích hợp và đáng tin cậy trong sự phù hợp với các luật lệ có liên quan, phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật đã qui định.

-          Nhân viên kế toán quản trị không được tiết lộ những thông tin bí mật của doanh nghiệp hoặc không được sử dụng những thông tin này cho lợi ích cá nhân.

-          Nhân viên kế toán quản trị cần phải trung thực tuyệt đối trong công việc của mình, đây là điều hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng đến các thông tin báo cáo quản trị.

-          Nhân viên kế toán quản trị phải truyền đạt thông tin một cách trung thực và khách quan. Những thông tin này mới phản ánh đúng bản chất của sự việc, làm sơ sở cho việc ra quyết định đúng đắn.

v  Sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật

Việc ứng dụng tin học hóa trong công tác kế toán được xem như một thước đo mức độ họat động của doanh nghiệp. Dưới gốc độ kế toán, đây là công cụ xử lý hỗ trợ đắc lực trong việc tạo nên các số liệu phù hợp với các yêu cầu các báo cáo. Vì vậy, để ứng dụng hệ thống kế toán quản trị vào thực tế đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp phải:

  • Lựa chọn phần mềm xử lý kế toán tiên tiến và mang tính “động”, có khả năng thích ứng với đặc thù của doanh nghiệp và sự thay đổi về yêu cầu quản lý của nhà nước. Khi cần thêm thông tin do yêu cầu của nhà quản thì kế tóan quản trị có thể khai thác một số chức năng quản trị để cung cấp thông tin từ hệ thống này.
  • Nhà quản lý và các nhân viên kế toán quản trị phải mô tả đầy đủ yêu cầu hệ thống thông tin kế toán quản trị của doanh nghiệp cho đơn vị thiết kế phần mềm, để họ thiết kế và cung cấp phần mềm hiệu quả hơn.
  • Khi mua hoặc tư thiết kế phần mềm kế toán phục vụ việc cung cấp thông tin nội bộ, nhà quản trị phải đưa ra hai yêu cầu chính yếu là: thiềt kế chương trình phải đảm bảo chức năng phân quyền và tính bí mật của thông tin ở mỗi cấp phân quyền.

Tóm lại, để kế toán quản trị thật sự được quan tâm và vận dụng ở các doanh nghiệp hiện nay thì phải được thực hiện đồng bộ ở các cấp từ cao đến thấp. Ở cấp quản lý vĩ mô, đòi hỏi phải có sự can thiệp vĩ mô của nhà nước và các cơ quan quản lý tào tạo chuyên ngành này nhằm qui định và hướng dẫn mô hình vận dụng kế toán quản trị, để doanh nghiệp thấy được tầm quan trọng và hiệu quả mang lại khi vận dụng kế toán quản trị. Hơn nữa, ở bản thân doanh nghiệp, các nhà quản lý phải có tầm nhận thức nhất về việc sử dụng các thông tin của kế toán, xây dựng được hế thống thông tin thông suốt trong nội bộ doanh nghiệp mình, phải mạnh dạn cải tiến, sắp xếp lại bộ máy kế toán cho phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Nếu các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp cùng phối hợp xây dựng những điều kiện cơ sở đã được nêu ở trên, thì chúng ta hãy tin rằng việc vận dụng kế toán quản trị vào doanh nghiệp thì hoàn toàn khả thi, tạo được kênh thông tin vô cùng hữu ích cho nhà quản trị các cấp điều hành doanh nghiệp hiệu quả hơn trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường hiện nay.

*******

Tài liệu tham khảo:

  1. Management Accounting – A. Atkinson, R.D.Banker, R.S.Kaplan, S.M.Young – Prentice Hall, 2001.
  2. Tái lập công ty- Tác giả: Michael Hammer và James Champy; Dịch giả: Vũ Tiến Phúc, NXB Trẻ, 2007.
  3. Management and Cost Accounting – C.T.Horngren, A.Bhimani, S.M.Datar, G.Foster – Prentice Hall, 2002.
  4. Mô hình & Cơ chế vận hành kế toán quản trị - PGS.TS Phạm Văn Dược – TS. Huỳnh Lợi, NXB Tài Chính, 2009.

[1]  Management Accounting – A. Atkinson, R.D.Banker, R.S.Kaplan, S.M.Young – Prentice Hall, 2001.

[2] Tái lập công ty- M.Hammer và J.Champy

[3] Management and Cost Accounting – C.T.Horngren, A.Bhimani, S.M.Datar, G.Foster – Prentice Hall, 2002.

 

 

 

CÁC CƠ SỞ THUỘC TRUNG TÂM

- Q3: 10 Hồ Xuân Hương, phường 6 , quận 3
- TB: 544 Cách Mạng Tháng 8 , phường 4, quận Tân Bình
- BT: 95 Đinh Tiên Hoàng, phường 3, quận Bình Thạnh
- GV: 52 Nguyễn Thái Sơn, phường 3, quận Gò Vấp
- TĐ: 281A Võ Văn Ngân, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức
- BH: Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, phường Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai

LIÊN HỆ

  • Hotline: (028) 2214 2829 - (028) 2214 2838

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI

Kết nối với chúng tôi trên mạng xã hội